Nghề xưa còn lại chút này.

  • Tin Tức
  • 28-09-2019
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến tháng 6-2018, cả nước có 5.411 làng nghề và làng có nghề (trong đó có 1.864 làng nghề truyền thống với 115 nghề truyền thống đã được công nhận), trong đó 60% ở vùng đồng bằng sông Hồng, 23% ở khu vực miền trung và 17% ở khu vực miền nam; thu hút khoảng 11 triệu lao động (khoảng 30% lực lượng lao động nông thôn).Trên thực tế nhiều làng nghề truyền thống đang có nguy cơ thất truyền, mai một dần.
 
làng nghề truyền thống
 
Chúng ta đang sống trong thời đại công nghệ 4.0, có thể thấy là các nghành nghể thủ công truyền thống nói chung sẽ bị ảnh hưởng.
Ví dụ như như nghề trang sức vàng bạc. Khi xem xét các sản phẩm ta thấy phần thủ công đã được thay thế bằng những kỹ thuật tiên tiến và đa phần làm bằng máy móc. Tôi có khảo sát ở phố Hàng Bạc (Hà Nội) thì thấy hiện giờ trang sức bạc làm thủ công 100% chỉ còn vài nghệ nhân làm. Còn lại đều đúc bằng sáp và dùng máy laze để tạo hoa văn chi tiết. Những sản phẩm thủ công có tính độc bản, dấu ấn cá nhân và thể hiện kỹ thuật truyền thống ngày càng ít đi. Ở làng đậu bạc danh tiếng Định Công giờ cũng chỉ còn 2 gia đình làm. Xa hơn là ở làng nghề bạc Đồng Xâm (Thái Bình) cũng thế. Nghề trạm bạc ở đây còn phải làm thêm nghề trạm đồng và dùng máy dập để bắt kịp xu thế.
 
làng nghề truyền thống
 
Thiệt thòi nhất trong nhóm làng nghề thủ công truyền thống vẫn là các làng nghề của các dân tộc thiểu số.
Đơn cử như nghề rèn nông cụ. Tôi có đi thực địa các chợ ở Cao Bằng thì được biết ở đây họ không còn rèn lưỡi cày thủ công nữa. Mặc dù nhu cầu khá lớn. Do hàng nhập đúc máy của Trung Quốc rẻ hơn. Bên cạnh đó là nghề làm giấy bản, nón lá, ngói ống...cũng vậy. 
 
làng nghề truyền thống
 
Nhóm làng nghề cũng bị mai một nhiều là nghề tạo hoa văn trên vải như kỹ thuật Batik, nhuộm bao sợi Ikat và thêu hoa văn thủ công. Trong chuyến khảo sát ở Cao Bằng, Lai Châu, Mộc Châu tôi thấy bản thân những người dân tộc giờ họ cũng ít mặc đồ của dân tộc mình. Đa phần chỉ mặc vào các dịp lễ, Tết, hội hè… Công nghệ dệt máy và in hoa văn trên vải giờ rất phổ biến. Những nghề này chỉ tồn tại nhỏ nhoi trong dân. Hàng làm ra chủ yếu để dùng chứ ít để làm thương mại, ngoại trừ các điểm du lịch cụ thể ở các thành phố như: Sapa, Hà Giang...
 
làng nghề truyền thống
 
Cụ thế nhất trong 2 chuyến khảo sát vào năm 2016, 2018 tại làng nghệ dệt nhuộm bao sợi (Ikat) ở Văn Giáo-Tịnh Biên-An Giang. Loại thổ cẩm này nếu nhìn ngang sẽ thấy màu xanh, nhìn nghiêng bên trái thấy màu cam, nghiêng bên phải thấy màu đỏ. Còn loại thổ cẩm làm bức họa hoặc khăn trải bàn, do mẫu hoa văn thường phỏng theo các tích truyện cổ (tuồng cổ) nên kỹ thuật dệt phức tạp hơn. Người giỏi nghề cũng phải làm cả năm trời mới hoàn thành được tấm thổ cẩm có cốt truyện sinh động. Kỹ thuật này còn có cả ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên nhưng nay đã thất truyền, chỉ còn người Cơ Tu ở làng Công Dồn (Nam Giang) nắm giữ bí quyết. Nghề ở Văn Giáo đã suýt thất truyền. May có một tổ chức của Úc đến đây và giúp dân làng phục dựng nghề. Hiện giờ cũng chỉ còn ít nghệ nhân nắm giữ đẩy đủ bí quyết kỹ thuật Ikat này. Thế hệ trẻ không thích theo học nghề.
Bên cạnh nghề dệt thổ cẩm và nghề làm trang sức bạc của các dân tộc thiểu số như Dao, Mông, Thái, Mường, Tày, Nùng...cũng có nguy cơ thất truyền cao. Tôi có vào một bản của người Dao Tiền ở Thám Hoa-Cao Bằng. Hiện ở làng chỉ còn duy nhất 1 bộ đầy đủ trang sức để làm mẫu. Và nghệ nhân làm được cũng chỉ còn vài người.
 
Làng nghề truyền thống
 
Đó là câu chuyện của miền núi.
Còn ở ngay Thưòng Tín Hà Nội hay ở Cổ Lễ- Nam Định nghề thổi thủy tinh đã từng huy hoàng. Khi đất nước còn khó khăn sau chiến tranh, nghề phát triển mạnh. Các làng này sản xuất ra những mặt hàng thông dụng như: cốc, chai, lọ, đèn dầu, ống tiêm...vv. Và đặc biệt là các con giống trang trí. Giờ đây nghề này không bắt kịp với công nghệ và chưa đầu tư thay đổi mẫu mã nên bị thụt hậu. Ngay cả khi có đầu tư thì câu chuyện vẫn còn dài. Tôi có đến một nhà máy thủy tinh tại KCN Đồng Văn- Hà Nam. Ở đây được đầu tư bài bản để làm đồ thủy tinh thủ công, kinh nghiệm học từ Tiệp Khắc nhưng họ cho biết cũng chưa cạnh tranh được với hàng Trung Quốc hay Tiệp Khắc...
 
Nghề tạc tượng từ than đá ở Quảng Ninh từng có một thời phát triển hoàng kim nhưng giờ chỉ còn có vài hộ làm. Mặc dù nguồn nguyên liệu nhiều. Cơ sở sản xuất nằm ngay thành phố Hạ Long nơi có lượng khách du lịch lớn nhất cả nước. Thật đáng tiếc.
 
Không thể không nói về tranh dân gian Việt Nam. Ít ai biết được dân tộc ta có hơn 30 dòng tranh dân gian. Nhưng giờ chỉ có một số dòng tranh còn tồn tại được như: tranh Đông Hồ, tranh kính Nam Bộ, tranh làng Sình và tranh Kim Hoàng( cũng vừa mới được phục hồi).
Còn nhiều dòng tranh đã thất truyền hoặc phát triển leo lét như: Tranh Hàng Trống chỉ còn duy nhất 1 gia đình làm. Tranh kính và tranh vải Khơ Me ở Sóc Trăng đang dần mai một. Tranh thờ người Dao, Tày... giờ đã thay thế bằng tranh in công nghiệp. Tranh Linh Phù, tranh Thập Vật, tranh vải gói Nam bộ, tranh giấy Gò Công, tranh trổ giấy, tranh dệt Khơ Me, tranh thờ Chăm...cũng không còn thấy làm nữa. Thật tiếc cho kho tàng tranh dân gian Việt Nam. 
 
Chúng ta có 1.864 làng nghề truyền thống với 11 triệu lao động. Làm gì để giữ nghề, để người làng nghề đủ sống và làm giàu ? Làm gì để tiếng nói và sẩn phẩm của họ được lằng nghe và trân trọng ?. 
 
Hãy xem trong nhà bạn có bao nhiêu sản phẩm từ làng nghề truyền thống của Việt Nam ?
Tag: Nghề xưa còn lại chút này., nghề truyền thống, làng nghề, Nghề cổ truyền, Nghệ bạc ở Đồng Xâm., Nghề làm tương, nghề điêu khắc từ than đá, Nghệ nhân phố Hàng Bạc., Nghệ nhân gốm Bàu Trúc., Tay thợ thêu., Gấy bản Cao Bằng., Nghề điêu khắc Bảo Hà., Tranh thờ người Dao., Nghề dệt của người Chăm, Vẽ tranh thờ người Chăm., Tranh giấy làng Sình-Huế., Nghệ nhân phỗng đất Đông Khê., Nghề tạo hoa văn thổ cẩm, Nghệ nhân khuôn bánh ở phố Hàng Quạt-Hà Nội., Nghệ nhân tranh bích họa Khơ Me-Sóc Trăng., tranh dân gian Hàng Trống, Nghề thêu ở Thắng Lợi-Thường Tín-Hà Nội.
Prev

Nghề làm ông Tiến sĩ giấy

Next

Gìn giữ nét văn hóa dân gian trong tranh Đông Hồ