Tranh dân gian Đông Hồ
 

tranh-dong-ho-dam-cuoi-chuot

Đám cưới chuột

 

Hội họa dân gian Việt Nam - Tranh dân gian Đông Hồ, hay tên đầy đủ là tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ, là một dòng tranh dân gian Việt Nam với xuất xứ từ làng Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Trước kia tranh được bán ra chủ yếu phục vụ cho dịp Tết Nguyên Đán, người dân nông thôn mua tranh về dán trên tường, hết năm lại lột bỏ, dùng tranh mới.

Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ là Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia. Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh và các cơ quan chuyên môn tiến hành nghiên cứu, lập hồ sơ khoa học cho Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ để đệ trình UNESCO đề nghị công nhận Di sản văn hóa phi vật thể.

Thơ Tú Xương về tranh Đông Hồ ngày Tết có câu:
 
Đì đoẹt ngoài sân tràng pháo chuột
Loẹt lòe trên vách bức tranh gà
 

tranh-dan-gian-dong-ho-tranh-lon-am-duong

Lợn ỷ có xoáy Âm dương

 
Giấy in và màu sắc của tranh Đông Hồ
Ngoài các đặc điểm về đường nét và bố cục, nét dân gian của tranh Đông Hồ còn nằm ở màu sắc và chất liệu giấy in. Giấy in tranh Đông Hồ được gọi là giấy điệp: người ta nghiền nát vỏ con điệp, một loại sò vỏ mỏng ở biển, trộn với hồ (hồ được nấu từ bột gạo tẻ, hoặc gạo nếp, có khi nấu bằng bột sắn - hồ dùng để quét nền tranh thường được nấu loãng từ bột gạo tẻ hoặc bột sắn, hồ nấu từ bột nếp thường dùng để dán) rồi dùng chổi lá thông quét lên mặt giấy dó. Chổi lá thông tạo nên những ganh chạy theo đường quét và vỏ điệp tự nhiên cho màu trắng với ánh lấp lánh những mảnh điệp nhỏ dưới ánh sáng, có thể pha thêm màu khác vào hồ trong quá trình làm giấy điệp.
 
Màu sắc sử dụng trong tranh là màu tự nhiên từ cây cỏ như đen (than xoan hay than lá tre), xanh (gỉ đồng, lá chàm), vàng (hoa hòe), đỏ (sỏi son, gỗ vang), v.v. Đây là những màu khá cơ bản, không pha trộn và vì số lượng màu tương ứng với số bản khắc gỗ, nên thường thường tranh Đông Hồ chỉ dùng tới 4 màu mà thôi.
 
Những thay đổi đối với thời xưa

Tranh dân gian Việt Nam - Tranh đàn lợn âm dương

Tranh Lợn đàn ở nhà nghệ nhân

 Nguyễn Hữu Sam

 
Tranh Đông Hồ khá gần gũi với đại đa số dân chúng Việt Nam, nhắc đến hầu như ai cũng đều biết cả. Tranh Đông Hồ gần gũi còn vì hình ảnh của nó đã đi vào thơ, văn trong chương trình giáo dục phổ thông. Ngày nay lệ mua tranh Đông Hồ treo ngày Tết đã mai một, làng tranh cũng thay đổi nhiều: làng Đông Hồ ngày nay có thêm nghề làm vàng mã. Nghề giấy dó ở làng Yên Thái (Bưởi, Tây Hồ) cũng đã không còn. Tuy vậy, tranh Đông Hồ vẫn đóng vai trò như một di sản văn hóa, một dòng tranh dân gian không thể thiếu.
 
 
 
 
 
 
 

Tranh "Đàn gà" hoặc "Sân gà" cầu chúc cho sự sung túc, đông con và an nhàn

Tranh "Đàn gà" hoặc "Sân gà" cầu chúc cho sự sung túc, đông con và an nhàn

 

 
Theo đánh giá của một số họa sĩ, tranh Đông Hồ in ở thời điểm hiện tại thường không có màu sắc thắm như tranh cổ, nguyên nhân là người ta trộn màu trắng vào điệp quét giấy để bớt lượng điệp khiến giấy mất độ óng ánh và trở nên "thường", màu sắc sử dụng cũng chuyển sang loại màu công nghiệp, các bản khắc mới có bản không được tinh tế như bản cổ. Một điểm đáng lưu ý khác nữa là một số bản khắc đã đục bỏ phần chữ Hán (hoặc chữ Nôm) bên cạnh phần hình của tranh khiến tranh ít nhiều bị què cụt về mặt ý nghĩa. Nguyên nhân dẫn tới tình trạng này ước đoán là:
 
Thời sau năm 1945, chữ Hán và chữ Nôm bị chính quyền coi là phong kiến lạc hậu, liệt vào danh mục bài xích nên thợ in đục bỏ cho đỡ phiền nhiễu.
 
Thế hệ sau này không phải ai cũng đọc và hiểu được các ký tự ấy nên tự ý bỏ đi.
 
Cũng do không đọc hiểu được nên các ván khắc truyền lại "tam sao thất bản", đến mức còn lại các ký tự nhưng không đọc được ra chữ gì.
 
Về nội dung tranh, lưu ý rằng có sự gần gũi nhất định giữa nội dung tranh khắc gỗ màu của Việt Nam với của Trung Quốc, có những tranh mà cả hai nước đều có, song tranh Đông Hồ phát triển thành một hướng riêng tồn tại nhiều thế kỷ và được thừa nhận như dòng tranh dân gian được biết đến nhiều nhất ở Việt Nam.
 

Tranh "Nhân nghĩa", với hình ảnh ‘Em bé trai ôm con cóc’ cầu chúc em bé sẽ học hành hiển đạt.

Tranh "Nhân nghĩa", với hình ảnh ‘Em bé trai ôm con cóc’ cầu chúc em bé sẽ học hành hiển đạt.

 
Làng tranh Đông Hồ
 
Làng tranh Đông Hồ xưa là làng nghề nổi tiếng về tranh dân gian, thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh cách Hà Nội chừng trên 25 km. Làng Đông Hồ (đôi khi dân địa phương chỉ gọi là làng Hồ) nằm trên bờ nam sông Đuống, cạnh bến đò Hồ, nay là cầu Hồ.
 
Quanh năm rất nhiều khách du lịch trong ngoài nước đến làng tranh Đông Hồ thăm và mua tranh Đông Hồ làm kỷ niệm. Một số khách sạn, nhà hàng từ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh cũng về đây đặt những bức tranh khổ lớn để trang trí cho cách phòng khách, hoặc phòng ăn lớn. Từ Hà Nội muốn đi Đông Hồ đường gần nhất du khách thường đi là xuôi theo đường Quốc lộ số 5 (đường đi Hải Phòng) đến ga Phú Thụy, cách Hà Nội chừng 15 km thì rẽ trái, đi chừng 18 km nữa, qua các địa danh khá nổi tiếng của huyện Gia Lâm (Hà Nội) như phố Sủi, chợ Keo, chợ Dâu (Thuận Thành-Bắc Ninh) là đến phố Hồ-huyện lỵ Thuận Thành. Rẽ trái thêm 2 km là đến làng Hồ. Cũng có thể đi hết phố Hồ, lên đê rẽ trái, gặp điếm canh đê thứ hai sẽ có biển chỉ dẫn đường xuống làng Đông Hồ.
 
 
Làng Đông Hồ xưa còn gọi là làng Mái. Các cụ làng Đông Hồ vẫn truyền lại mấy câu ca rằng:
 
Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về làng Mái với anh thì về
Làng Mái có lịch có lề
Có sông tắm mát có nghề làm tranh.
 
Làng Đông Hồ nằm ngay sát bờ sông Đuống, ngày xưa chỉ cách sông một con đê, đó là ý trong câu "Có sông tắm mát có nghề làm tranh". Ngày nay, do sự bồi lấp của dòng sông nên từ đê ra đến mép nước giờ khá xa.
 

Vinh hoa, với ý nghĩa tượng trưng cho ước muốn hiển đạt với đủ đức hạnh quân tử như nhân, nghĩa, tín, dũng và văn võ song toàn

Vinh hoa, với ý nghĩa tượng trưng cho ước muốn hiển đạt với đủ đức hạnh quân tử như nhân, nghĩa, tín, dũng và văn võ song toàn
 

Còn "làng Mái có lịch có lề" thì nghĩa là gì? Tục ngữ Việt Nam có câu: giấy rách phải giữ lấy lề. Chữ "lề" ở đây tượng trưng cho những quy tắc đạo đức của người xưa, rất trọng danh dự, khí tiết. Còn dân làng Mái, dân nghệ thuật rất trọng lời ăn tiếng nói. Không như nhiều làng quê khác, người dân làng Hồ, nhất là phụ nữ, ăn nói rất lịch lãm, trên dưới thưa gửi rất rõ ràng. Người làng kể rằng kể cả từ xưa, rất hiếm khi trong làng có tiếng người mắng chửi nhau.

 
Do công nghệ phát triển, tranh dân gian làng Hồ bây giờ không tiêu thụ nhiều như trước. Qua nhiều thế kỷ, 17 dòng họ đã quy tụ về làng, vốn xưa tất cả đều làm tranh. Nhưng đến nay, dân làng Hồ hiện chủ yếu sống bằng nghề làm vàng mã. Hiện nay chỉ còn hai gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng ChếNguyễn Hữu Sam cùng con cháu là theo nghề tranh, gìn giữ di sản tranh Đông Hồ.
 
Hàng năm làng Hồ có hội làng vào rằm tháng vào 3 âm lịch. Trong hội làng có những nghi thức truyền thống như tế thần, thi mã, thi tranh rất vui vẻ. Làng còn có các làn điệu dân ca như:
 
Hỡi anh đi đường cái quan
Dừng chân ngắm cảnh mà tan nỗi sầu
Mua tờ tranh điệp tươi màu
Mua đàn gà lợn thi nhau đẻ nhiều.
 
 
 
Theo wikipedia
 
 
La peinture Dong Ho ou la gravure sur bois folklorique Dong Ho est un genre de peinture folklorique vietnamienne issue du village de Dong Ho (commune de Dong Ho, district de Thuan Thanh, province de Bac Ninh). Il y a longtemps, la peinture de Dong Ho était une décoration précieuse pour célébrer les vacances du Têt. Les Vietnamiens ont acheté des photos de Dong Ho pour les accrocher au mur pendant un an, puis les ont remplacées par de nouvelles quand une nouvelle année s’annonçait. La peinture de Dong Ho est devenue un symbole vivant de la culture populaire au Vietnam et une source d'inspiration pour les poètes et les musiciens de nombreuses générations.
Outre la beauté des lignes et des schémas, le trait traditionnel de la peinture de Dong Ho réside également dans sa couleur et son papier; les deux sont faits à la main et dérivés de matériaux disponibles dans la nature. Le papier est fait d’écorce d’arbre appelée “do” et de poudre de coquillages et de riz gluant, tandis que les couleurs de peinture utilisées dans les tableaux de Dong Ho sont traitées à partir de divers types de matériaux naturels que l’on trouve facilement dans les villages vietnamiens. Alors que les coquillages apportent un fond blanc étincelant, le riz gluant rend le papier plus souple et permet de conserver les couleurs longtemps. La couleur noire provient des cendres de feuilles de bambou brûlées; le rouge est de gravier rouge; le jaune est de fleurs. Toutes les couleurs sont si frappantes et vives que vous semblez voir tous les villages vietnamiens à travers chaque ligne, chaque bloc de couleur.
En ce qui concerne les thèmes de la peinture Dong Ho, il convient de noter que l’image folklorique est un bon reflet de la vie quotidienne, des valeurs culturelles, des philosophies sociales et de l’aspiration humaine à une vie meilleure dans les années à venir; par conséquent, la vie quotidienne, les allégories populaires, les commentaires sociaux, les figures mythiques et historiques, les signes de bonheur, de chance, de prospérité sont les sujets principaux de la peinture. Des éléments de la vie quotidienne sont bien intégrés dans les peintures de ĐôngHồ afin d'exprimer les pensées et les souhaits des personnes.
- Vœux de bonne chance: Lợnđàn (cochon corpulent aux porcelets allaitants), Gàđàn (poule entourée de poulets), Cáchép (carpe)…
- Personnages mythiques et historiques: BàTriệu, Hai BàTrong, Quang Trung, ThánhGióng….
- Allégories populaires et histoires populaires: TruyệnKiều, ThichSanh, Th ,y ầ Cóc (érudit confucéen en forme de crapaud), ,ámcướichuột (mariage de rat)
- Activités sociales et commentaires: Đánhghen (scène de la jalousie), Hứngdừa (scène de la capture de noix de coco), Đấuvật (scène de la lutte), Chăntrâuthổisáo (garçon assis sur un buffle et jouant de la flûte)
-----
Tranh đông hồ hay khắc gỗ dân gian là một loại tranh dân gian Việt Nam từ làng đông hồ (đô thị đông hồ, huyện thuận thành, bắc ninh). Một thời gian dài, bức tranh của Đông Hồ là một trang trí quý giá để ăn mừng những ngày nghỉ của Têt. Người Việt mua ảnh đồng hồ treo lên tường một năm, sau đó thay thế bằng những cái mới khi một năm mới được công bố. Tranh đồng hồ đã trở thành biểu tượng sống của văn hóa phổ biến tại Việt Nam và một nguồn cảm hứng cho các nhà thơ và nhạc sĩ của nhiều thế hệ.
Ngoài vẻ đẹp của các dòng và các mô hình, đặc điểm truyền thống của bức tranh đồng hồ cũng nằm trong màu sắc và giấy của nó; cả hai đều là handmade và có nguồn gốc từ vật liệu có sẵn trong thiên nhiên. Giấy được làm từ cây sủa được gọi là "làm" và vỏ bột và nếp cẩm, trong khi các màu sơn được sử dụng trong các bức tranh của đông hồ được điều trị từ các loại vật liệu thiên nhiên có thể được tìm thấy dễ dàng trong các làng Việt. Trong khi vỏ sò mang một nền trắng lung linh, nếp cẩm làm cho giấy thêm dẻo và cho phép giữ màu lâu. Màu đen đến từ tro của lá tre cháy; màu đỏ là của sỏi đỏ; màu vàng là của hoa. Tất cả các màu sắc đều rất nổi bật và sống động mà bạn có vẻ nhìn thấy tất cả các làng Việt Nam qua từng dòng, từng khối màu.
Theo chủ đề của bức tranh đồng hồ, nó nên được ghi nhận rằng hình ảnh dân gian là một sự phản chiếu tốt của cuộc sống hàng ngày, giá trị văn hóa, triết học xã hội và ham muốn của con người cho một cuộc sống tốt đẹp hơn trong những năm sắp tới; do đó, cuộc sống hàng ngày, phổ biến Bình luận xã hội, thần thoại và những con số lịch sử, dấu hiệu của hạnh phúc, may mắn, thịnh vượng là các môn chính của bức tranh. Các yếu tố của cuộc sống hàng ngày được tích hợp vào các bức tranh của các bức tranh để thể hiện những suy nghĩ và lời chúc của mọi người.
- Lời chào của những điều may mắn: Lợnđàn (heo nặng với lợn Hãy), Gàđàn (gà vây quanh bởi gà), Cáchép (cá chép)...
- Personnages mythiques et historiques: BàTriệu, Hai BàTrong, Quang Trung, ThánhGióng….
- Những câu chuyện phổ biến và phổ biến: Truyệnkiều, thichsanh, th, y trong cốc (học giả cóc dưới hình thức của một con ếch),, Ámcướichuột (hôn nhân chuột)
- Các hoạt động xã hội và bình luận: Đánhghen (cảnh ghen), Hứngdừa (cảnh chụp dừa), Đấuvật (cảnh vật vã), Chăn trâu thổi sáo (cậu bé ngồi trên trâu và thổi sáo)